28 July 2026 in VietNam Military Medical Unisversity
Mục tiêu: Xác định một số yếu tố lâm sàng và cận lâm sàng có giá trị tiên lượng viêm ruột thừa có biến chứng ở bệnh nhân (BN) viêm ruột thừa cấp (VRTC). Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu, mô tả cắt ngang trên 246 BN VRTC được phẫu thuật cắt ruột thừa tại Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 01 - 8/2025. Đánh giá mức độ tổn thương giải phẫu bệnh ruột thừa và phân thành hai nhóm: VRTC có biến chứng và không biến chứng. So sánh các yếu tố lâm sàng và cận lâm sàng giữa hai nhóm; phân tích hồi quy logistic được sử dụng để xác định các yếu tố có giá trị tiên lượng đối với viêm ruột thừa có biến chứng. Kết quả: Tỷ lệ VRTC có biến chứng là 26,4%. Số lượng bạch cầu (BC), tỷ lệ BC trung tính (%N) và nồng độ CRP (protein C phản ứng) cao hơn có ý nghĩa ở nhóm có biến chứng. %N và nồng độ CRP là các yếu tố tiên lượng độc lập với VRTC có biến chứng. Mô hình hồi quy logistic kết hợp hai yếu tố này có khả năng phân biệt VRTC có biến chứng mức trung bình với AUC = 0,670 (95%CI: 0,595 - 0,745; p < 0,001). Kết luận: %N và nồng độ CRP có giá trị tiên lượng độc lập đối với VRTC có biến chứng.
28 October 2024 in VietNam Military Medical Unisversity
Mục tiêu: Đánh giá tỷ lệ xâm nhiễm lympho (tumor-infiltrating lymphocytes - TILs) vùng rìa mô u và mối liên quan với các đặc điểm giải phẫu bệnh (GPB) ở bệnh nhân (BN) ung thư biểu mô đại trực tràng (UTBMĐTT). Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 131 BN UTBMĐTT, được phẫu thuật tại Bệnh viện Quân y 103. Bệnh phẩm được xử lý theo quy trình xét nghiệm GPB thường quy. Đánh giá tỷ lệ TILs vùng rìa u trên tiêu bản và xác định mối liên quan với các đặc điểm GPB. Kết quả: Tỷ lệ TILs trung bình là 14,96 ± 17,5%, trung vị là 5%; tỷ lệ TILs cao liên quan có ý nghĩa với các yếu tố tiên lượng tốt gồm mức độ u xâm lấn (pT) thấp, độ mô học thấp, giai đoạn bệnh sớm và không có xâm nhập thần kinh. Kết luận: Tỷ lệ xâm nhiễm lympho vùng rìa u cao là yếu tố tiên lượng tốt ở BN UTBMĐTT.
1 February 2024 in VietNam Military Medical Unisversity
Mục tiêu: Xác định tỷ lệ bộc lộ dấu ấn PD-L1 và mối liên quan với týp mô bệnh học (MBH) và đột biến gen EGFR ở bệnh nhân (BN) ung thư phổi không tế bào nhỏ (UTPKTBN). Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 138 BN được chẩn đoán UTPKTBN tại Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 6/2021 - 6/2023. Phân týp MBH, xét nghiệm đột biến gen EGFR và nhuộm hóa mô miễn dịch (HMMD) với dấu ấn PD-L1 trên các bệnh phẩm sinh thiết. Xác định tỷ lệ bộc lộ dấu ấn PD-L1 và mối liên quan với các chỉ tiêu nghiên cứu. Kết quả: Tỷ lệ PD-L1 dương tính là 48,5%, bao gồm 18,8% trường hợp có tỷ lệ bộc lộ 1 - 49%, 29,7% trường hợp bộc lộ ≥ 50%. Sự bộc lộ dấu ấn PD-L1 không có mối liên quan với các đặc điểm tuổi, giới tính, týp MBH, nhưng liên quan có ý nghĩa với tình trạng đột biến gen EGFR (tế bào u có bộc lộ dấu ấn PD-L1 có tỷ lệ đột biến gen EGFR thấp hơn). Kết luận: Bộc lộ dấu ấn PD-L1 dương tính có mối liên quan có ý nghĩa với EGFR kiểu dại.