Linh My Duong

Dr. Linh My Duong


Research Focus & Metrics

Academic Career Length

4Years (2023-Present)

(Calculated once Scilit publication data is synced: current year − year of first publication + 1)

Representative Publications

View All Publications
12 July 2024 in Medicine
Verified
Journal Article
Open access
NPNga Thi Ngoc Pham
Nga Thi Ngoc Pham
CHChau Thi Ngoc Huynh
Chau Thi Ngoc Huynh
ANAi Thuy Thuy Nguyen
Ai Thuy Thuy Nguyen
CHChuong Quoc Ho
Chuong Quoc Ho
LDLinh My Duong
Linh My Duong
HNHa Hong Nguyen
Ha Hong Nguyen
Gestational diabetes mellitus (GDM) is a common condition during pregnancy and is associated with an increased risk of pre-eclampsia. The methylenetetrahydrofolate reductase (MTHFR) gene plays a crucial role in folate metabolism and has been implicated in GDM. To investigate the relationship between the MTHFR C677T gene polymorphism and the conditions of GDM and gestational prediabetes in pregnant women. A case-control study was conducted in 114 pregnant women with GDM and 96 pregnant women without GDM, from the first trimester to the prenatal examination at Can Tho Obstetrics Hospital. The pregnant women underwent a 1-hour (G1) and 2-hour (G2) oral glucose tolerance test (OGTT) and genetic polymorphism analysis based on real-time PCR technique. In pregnant women with GDM, weight, concentrations of G0, G1, G2, and folic acid were higher than those in the non-GDM group, with P < .05. When analyzing the subgroup without gestational diabetes, we found that the rate of prediabetes was 16.6% (16/96 pregnant women). In this group, blood glucose levels at 1 hour and 2 hours during the OGTT were higher compared to the normal glucose group ( P < .05). A 2-hour post-OGTT glucose level of 7.78 mmol/L had a sensitivity of 93.8%, a specificity of 100%, and an area under the curve of 0.987 for diagnosing gestational prediabetes ( P < .001). However, there were no statistically significant differences in the CC, CT, and TT polymorphisms of the MTHFR C677T gene among pregnant women with or without pre-gestational and GDM. Both fasting blood glucose and 2-hour glucose concentrations during the OGTT, as well as folic acid concentrations, were higher in both the pre-gestational and GDM groups compared to the non-gestational diabetes cohort. However, the analysis of MTHFR C677T polymorphisms revealed no statistically significant differences among the groups, highlighting the necessity for more extensive investigations to gain deeper insights into this relationship.

5 March 2024 in Sri Lanka Journal of Child Health
Verified
Journal Article
Open access
PDF file
NBNghia Quang Bui
Nghia Quang Bui
CMCuong Thi Kim Mai
Cuong Thi Kim Mai
NNNguyet Nguyen
Nguyet Nguyen
Thang NguyenThang Nguyen
Thang Nguyen
LDLinh My Duong
Linh My Duong
Introduction: Mycoplasma pneumoniae is regarded as an involved factor in refractory asthma exacerbations. The link between Mycoplasma pneumoniae infection and asthma is not fully understood, particularly regarding clinical and paraclinical characteristics.Objectives: To determine the frequency of Mycoplasma pneumoniae infection in asthmatic children, identify clinical and paraclinical characteristics along with clinical management in children aged 6 to 15 years at Can Tho Children's Hospital, Vietnam.Method: From March 2019 to April 2021, 124 patients participated in a cross-sectional study that was done. Mycoplasma pneumoniae was detected using an immunoglobulin N (IgM) serology test.Results: Mycoplasma pneumoniae-IgM serology was positive in 32.3% asthmatic children. IgM-positive individuals had significantly greater percentages of accessory respiratory muscle contraction, coarse crackles, fever, and increased heart rate. Mycoplasma pneumoniae infection occurred in 42.3% of children who were hospitalized for the first time and had asthma diagnosis. Mycoplasma pneumoniae infection and the severity of acute asthma exacerbations had a positive association (p<0.05). A longer hospital stay (6.74±1.91 days) and a higher exacerbation recurrence rate (32.4%) were observed in the IgM-positive group (p<0.05). Conclusions: Mycoplasma pneumoniae infections were highly prevalent in asthmatic children. Severity of acute asthma exacerbations, first-time asthma diagnosis, and recurrence of asthma exacerbation were significantly associated with Mycoplasma pneumoniae infection.

28 February 2023 in Tạp chí Y Dược học Cần Thơ
Verified
Journal Article
Open access
PDF file
LDLinh My Duong
Linh My Duong
TKThị Ngọc Giao Khấu
Thị Ngọc Giao Khấu
Đặt vấn đề: Chuyển dạ kéo dài là một trong những nguyên nhân gây tử vong mẹ với tỷ lệ khoảng 2,8%. Chuyển dạ kéo dài báo hiệu cuộc sinh diễn tiến không thuận lợi có thể dẫn đến tai biến cho mẹ như: vỡ tử cung, nhiễm trùng huyết, cắt tử cung và đường rò niệu dục. Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá kết quả xử trí thai kỳ chuyển dạ kéo dài tại Bệnh viện Sản Nhi TWG Long An năm 2021-2022. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả trên 100 thai phụ có chuyển dạ kéo dài tại Bệnh viện Sản nhi TWG Long An từ tháng 7 năm 2021 đến tháng 1 năm 2022. Thai phụ được theo dõi sát chuyển dạ và xử trí theo từng trường hợp cụ thể, ghi nhận phương pháp sinh, tình trạng trẻ và mẹ khi sinh và sau sinh. Kết quả: Trong nhiên cứu có 62 trường hợp sinh thường chiếm 62%; 38 trường hợp mổ lấy thai chiếm 38%. Băng huyết sau sinh chiếm 21%; sản phụ sinh thường có nguy cơ băng huyết sau sinh cao hơn nhóm sản phụ được chỉ định mổ lấy thai. Nguyên nhân do đờ tử cung chiếm tỉ lệ 100%; Tỷ lệ số lượng máu mất trên 500ml chiếm 21%, lượng máu mất trung bình của thai kì chuyển dạ kéo là 348,3186,1ml. Nhóm sản phụ sinh thường có lượng máu mất trung bình lớn hơn nhóm sinh mổ. Cân nặng trẻ sơ sinh ≥ 3500 gam chiếm 32%. Chỉ số Apgar trẻ 1 phút <7 điểm chiếm 13% và 5 phút <7 chiếm 2%, có 13 trẻ chuyển nhi sơ sinh, trong đó có 12 trẻ suy hô hấp chiếm 92,3% và có 1 trẻ nhiễm trùng sơ sinh chiếm 2,2%. Kết luận: Chuyển dạ kéo dài có tỷ lệ sinh thường cao và tai biến - biến chứng cũng tương tự như mổ lấy thai.

31 October 2023 in Tạp chí Y Dược học Cần Thơ
Verified
Journal Article
Closed access
PDF file
LDLinh My Duong
Linh My Duong
QBQuang Nghĩa Bùi
Quang Nghĩa Bùi
TTTrọng Nhân Trần
Trọng Nhân Trần
QTQuỳnh Trang Trương
Quỳnh Trang Trương
TDThị Khao Ry Dương
Thị Khao Ry Dương
Đặt vấn đề: Tiêm vaccine HPV ngừa ung thư cổ tử cung là một trong những biện pháp tốt nhất để phòng bệnh, vaccin HPV có thể giúp ngăn ngừa hơn 90% các trường hợp ung thư do HPV gây ra. Mục tiêu nghiên cứu: Xác định tỷ lệ tiêm vaccine HPV ngừa ung thư cổ tử cung ở nữ sinh viên Trường Đại học Y Dược Cần Thơ năm 2023. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 763 nữ sinh viên Trường Đại học Y Dược Cần Thơ bằng cách chọn mẫu phân tầng và tiến hành phỏng vấn trực tiếp theo bộ câu hỏi đã được soạn sẵn từ tháng 01 đến tháng 07 năm 2023. Kết quả: Tỷ lệ tiêm ngừa vaccin HPV chung là 35,1%; tiêm 1 mũi 15,7%; tiêm 2 mũi 13,1%; tiêm 3 mũi 71,3%. Tỷ lệ tiêm ngừa loại Cervarix 17,9%; Gardasil 4 chiếm 44,8%; Gardasil 9 chiếm 13,8%; không nhớ loại vaccin 23,5%. Tỷ lệ tiêm ngừa ở nữ sinh viên năm thứ 6 chiếm 38,9%; năm thứ 4 chiếm 36,7%; năm thứ 3 chiếm 35,4%, năm thứ 2 chiếm 20%, năm thứ nhất 27,1%. Tỷ lệ tiêm ngừa vaccin HPV 36,7% ở ngành y đa khoa; kế là ngành y học dự phòng chiếm 35,2%. Kết luận: Tỷ lệ tiêm ngừa vaccin HPV ở nữ sinh viên không cao, tập trung nhiều vào những năm học cuối.

31 October 2023 in Tạp chí Y Dược học Cần Thơ
Verified
Journal Article
Closed access
PDF file
HNHữu Thời Nguyễn
Hữu Thời Nguyễn
LDLinh My Duong
Linh My Duong
QBQuang Nghĩa Bùi
Quang Nghĩa Bùi
TPThị Vân Phan
Thị Vân Phan
Đặt vấn đề: Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ bắt đầu sử dụng sonde Foley để khởi phát chuyển dạ trên các thai trưởng thành bên cạnh phương pháp đang dùng là Dinoprostone đặt âm đạo phóng thích chậm (Propess). Foley có ưu điểm là rẻ hơn Propess, tuy nhiên chưa có nghiên cứu so sánh kết quả của hai phương pháp trên. Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá kết quả khởi phát chuyển dạ bằng sonde Foley và Propess ở thai phụ ≥ 37 tuần. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Thử nghiệm lâm sàng có nhóm chứng trên 150 thai phụ, trong đó có 75 thai phụ được dùng sonde Foley và 75 thai phụ được dùng Propess. Kết quả: Tỉ lệ khởi phát chuyển dạ thành công ở nhóm Foley (77,3%) thấp hơn nhóm Propess (85,3%) nhưng không có ý nghĩa thống kê (RR=0,91; KTC 95%: 0,78-1,06, p=0,209). Thời gian trung bình để khởi phát thành công ở nhóm Foley tương đương nhóm Propess (9,± 3,3 giờ; 10,1±5,0 giờ, p=0,171). Tuy nhiên, tỉ lệ phải dùng oxytocin để tăng co sau khởi phát thành công ở nhóm Foley gấp 4,7 (KTC 95%: 2,5-8,8) lần; tỉ lệ sử dụng thuốc làm mềm cổ tử cung gấp 2,1 (KTC 95%: 1,2-3,9) lần nhóm Propess. Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỉ lệ sinh đường âm đạo sau khởi phát chuyển dạ thành công (70,7%; 79,7%, RR=0,89; KTC 95%: 0,721,09, p=0,249); thời gian trung bình từ lúc khởi phát đến khi sinh đường âm đạo (14,5±7,8 giờ; 12,7±7,9 giờ, p=0,275). Kết luận: Dùng sonde Foley để khởi phát chuyển dạ có hiệu quả tương đương dùng Dinoprostone, tuy nhiên cần phải dùng oxytocin và thuốc làm mềm cổ tử cung nhiều hơn.

14 May 2025 in Tạp chí Y học Việt Nam
Verified
Journal Article
Open access
PDF file
LDLinh My Duong
Linh My Duong
VÁVi Nguyễn Ái
Vi Nguyễn Ái
NQNghĩa Bùi Quang
Nghĩa Bùi Quang
RKRy Dương Thị Khao
Ry Dương Thị Khao
NÁNguyệt Phan Thị Ánh
Nguyệt Phan Thị Ánh
Đặt vấn đề: ối vỡ sớm là tình trạng màng ối vỡ trước khi cổ tử cung mở trọn trong chuyển dạ, ảnh hưởng đáng kể đến kết cục thai kỳ. Mục tiêu nghiên cứu: xác định tỷ lệ, một số yếu tố liên quan đến ối vỡ sớm ở thai phụ nhập viện sinh tại khoa Phụ Sản - Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: mô tả cắt ngang có phân tích trên 355 thai phụ có tuổi thai từ 28 tuần, đến sinh tại khoa Phụ Sản - Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ từ tháng 06 năm 2023 đến tháng 01 năm 2025. Kết quả: tỷ lệ ối vỡ sớm là 33,8 %. Một số yếu tố liên quan đến ối vỡ sớm như: con so làm tăng nguy cơ ối vỡ gấp 6,8 lần (KTC 95%: 4,2 – 11,1); tiền sử sẩy thai tăng nguy cơ 2,1 lần (KTC 95%: 1,2 – 3,9), tiền sử ối vỡ làm tăng nguy cơ 1,9 lần (KTC 95%: 1,1 – 2,5) và vết mổ cũ làm giảm nguy cơ ối vỡ 0,08 lần (KTC 95%: 0,04-0,2). Kết luận: Ối vỡ sớm có tỷ lệ cao, tiền sử thai kỳ trước có liên quan đến tình trạng ối vỡ sớm ở thai phụ.